Chuyện về người từng làm Phó Thủ Tướng chính quyền Sài Gòn đến cố vấn của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh – và kế sách hồi sinh nền kinh tế Việt Nam “chưa xuất hiện trong một giáo trình kinh tế nào trên thế giới”.
Một trong những “tác giả” quan trọng nhất của các chính sách tiền tệ, chặn đứng lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 1989, 1990, góp phần cứu vãn sự sụp đổ của nền kinh tế Việt Nam (và có lẽ sau đó là kéo theo cả chế độ chính trị), không ai khác, chính là tiến sỹ Nguyễn Xuân Oánh.
Nguyễn Xuân Oánh, sinh năm 1921 tại Phủ Lạng Thương, nay là tp. Bắc Giang. Ông tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế của ĐH Harvard năm 1954, rồi làm việc cho Ngân hàng Thế giới.
Năm 1963, khi Ngô Đình Diệm có nguy cơ bị lật đổ, ông về nước và tham gia chính quyền Việt Nam Cộng Hòa . Ông Oánh làm Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, rồi Phó Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa và có một thời gian ngắn làm Quyền Thủ tướng. Vợ của ông là bà Thẩm Thúy Hằng, một diễn viên và tượng đài sắc đẹp của xã hội Sài Gòn cũ.
Đối mặt với 30/4/1975, ông Oánh không rời bỏ quê hương bất chấp dư luận “Cộng sản sẽ tắm máu Sài Gòn, thảm sát quan chức VNCH”. Sau giải phóng Sài Gòn, ông bị quản chế 9 tháng, và dù Mỹ đã bảo lãnh nhưng ông cũng không bỏ quê hương. Sau đó, bằng tài năng của mình và thực tế thời kỳ Đổi mới cần những nhà kinh tế học giỏi, ông Oánh đã được đối xử xứng đáng. Ông được bổ nhiệm làm Cố vấn kinh tế cho Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Võ Văn Kiệt, tham mưu hàng loạt chính sách giúp chặn đứng lạm phát, bình ổn kinh tế Việt Nam giai đoạn 1989 – 1990.
Sau khi chuyển đổi từ bao cấp sang cơ chế thị trường, kinh tế Việt Nam lạm phát phi mã. Từ năm 86, lạm phát tăng lên 300%, rồi 400%, rồi 500%, thuộc hàng cao nhất lịch sử nhân loại.
Trong khi đó, lãi suất cho vay của ngân hàng lại quá thấp do bị nhà nước kìm hãm. Nghĩa là đầu năm, vay của ngân hàng 1 triệu đồng, thì cuối năm trả 1,04 triệu đồng, nhưng 1,04 triệu cuối năm đã mất giá, chỉ có giá trị bằng 200 nghìn đồng vay đầu năm. Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nói với ông Đỗ Mười: “Đầu năm hợp tác xã vay tiền ngân hàng để mua cả con trâu, đến cuối năm số tiền phải trả nợ ngân hàng chỉ bằng đuôi trâu”. Vậy là người dân đổ xô đi vay tiền, còn Ngân Hàng Nhà Nước thì cứ vô tư in thêm lượng tiền lớn gấp 400 lần để đổ cho dân vay, càng làm đồng tiền gần như mất hết giá trị.
Theo báo chí Mỹ, nếu Việt Nam không có từ 2 – 3 tỷ đô la Mỹ đổ vào, kinh tế sẽ phá sản. Nhưng thực tế, Việt Nam đã vực dậy bằng những chính sách rất khôn ngoan, chưa xuất hiện trong một giáo trình kinh tế nào trên thế giới.
Tháng 4/1989, Ngân hàng nhà nước tăng lãi suất gửi tiết kiệm lên đột biến, 14 % một tháng, trong khi lãi suất cho dân vay lại thấp hơn, chỉ 11% một tháng. Chính sách này gặp chỉ trích từ giới kinh tế học quốc tế, vì theo lý thuyết, ngân hàng phải “mua tiền rẻ, bán tiền đắt”. Tuy nhiên, “kỳ diệu” ở chỗ, người dân từ chỗ đổ xô đi vay tiền ngân hàng (đã trình bày ở phần trước), nay lại đổ xô mang tiền đi gửi tiết kiệm. Ngân hàng nhà nước thu được lượng tiền mặt khổng lồ nên giảm in tiền, đồng thời có tiền để giảm bội chi ngân sách, tăng lương cho người lao động.
Cuối cùng, lạm phát bị chặn đứng theo đúng nghĩa đen. Lạm phát từ chỗ 800%, giảm xuống còn 67% năm 1989, sang thập niên 90 thì giảm còn 1 chữ số. Kinh tế Việt Nam chính thức thoát khỏi khủng hoảng và khởi sắc trở lại.
——–
Chia sẻ từ: Tunglam Nguyen – Maybe You Missed F***king News.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here